co-gai-dong-trinh-va-chang-du-tu

Cô Gái Đồng Trinh Và Chàng Du Tử

Tác giả: D.H. Lawrence
Sách giấy: 38.700đ 43.000đ (-10%)
Ebook:
Download TẢI EBOOK
Nhà xuất bản NXB Hội nhà văn
Công ty phát hành Nhà sách Phương Nam
Kích thước 13 x 19 cm
Số Trang 156

Cô Gái Đồng Trinh Và Chàng Du Tử

Cô gái Đồng trinh và chàng Du tử (The Virgin And The Gipsy) là một tiểu thuyết ngắn rực rỡ, mãnh liệt. Nó thức tỉnh niềm đam mê, tình yêu và tự do.

Đó là cuộc thức tỉnh của nàng Yvette. Nàng sống trong nhà đạo của người cha mục sư. Nhưng đời sống thì ở bên ngoài.

Mà đời sống thì khác, "tựa như một mặt trời quay nhanh và nguy hiểm".

Một khát vọng thoát ly.

Một cuộc gặp gỡ bất ngờ giữa nàng và chàng du mục.

Rồi cơn lũ ập đến. Đến từ dòng sông. Đến từ đời sống. Đến từ tâm hồn nàng.

Cơn lũ có sức mạnh hủy diệt. Cuốn phăng tòa nhà đạo.

Nàng đối mặt với Nước, với Đời, với Du Tử.

Yvette ơi, nàng hãy sống!

I

       Khi vợ ngài mục sư [1] bỏ đi cùng một anh chàng không xu dính túi, để lại hai đứa con gái nhỏ chỉ mới chín và bảy tuổi, tai tiếng bay xa không biết đâu là bờ. Ngài mục sư là một người chồng tốt. Quả thật, tóc ông đã điểm bạc. Nhưng hàm ria mép của ông vẫn đen, ông đẹp trai và còn tràn trề những khát khao thầm kín dành cho người vợ xinh đẹp buông thả của mình.

Tại sao cô lại bỏ đi? Tại sao cô bất thần giở chứng cao chạy xa bay như thể bị phát rồ vậy?

Chẳng ai đưa ra câu trả lời. Những người ngoan đạo đơn giản gọi cô là mụ đàn bà hư hỏng. Còn một vài phụ nữ tử tế thì im lặng. Họ hiểu vì sao.

Hai đứa con gái bé bỏng không bao giờ hiểu. Chúng bị tổn thương và mặc nhiên cho rằng mẹ chúng không cần đến chúng nữa.

Cơn gió chướng chẳng mang đến điềm lành cho ai đã cuốn gia đình mục sư vào dòng tàn lụi. Nhưng hãy nhìn xem! Ngài mục sư, với chút tài năng viết lách và phản biện cũng như hoàn cảnh đáng thương được giới mọt sách cảm thông, đã tìm được kế sinh nhai ở làng Papplewick. Chúa đã bù đắp cơn rủi ro bằng một tòa mục sở ở miền thôn dã phía Bắc.

Tòa mục sở là một ngôi nhà bằng đá xấu xí nằm bên bờ sông Papple, trước cửa ngõ dẫn vào làng. Xa xa phía trên giao điểm của dòng nước và đường cái là những guồng quay sợi lớn cũ kỹ một thời chạy bằng sức nước. Con đường đánh vòng lên triền đồi, dẫn vào những lối đi lát đá hiu quạnh của ngôi làng.

Gia đình mục sư đón nhận sự thay đổi đã được định đoạt thông qua việc thuyên chuyển vào tòa mục sở. Vị mục sư, nay là giáo khu trưởng  [2] , đón mẹ già, chị gái và anh trai từ thành phố về ở chung. Hai bé gái bước vào một môi trường sống khác hẳn với mái ấm xưa.

Ngài mục sư, bấy giờ bốn mươi bảy tuổi, biểu lộ một nỗi đau buồn mãnh liệt và không mấy tôn nghiêm sau sự ra đi của người vợ. Các quý nương cao thượng đã phải ngăn ông khỏi tự sát. Tóc ông gần như bạc trắng, và ánh mắt của ông dại đi thảm hại. Chỉ cần nhìn ông là người ta thấy ngay toàn bộ tình thế đã xảy ra tồi tệ ra sao, và bản thân ông bị mang tiếng thế nào.

Thế nhưng đâu đó vẫn có dấu hiệu sai lầm. Một số quý nương, những người đã dành cho ông mục sư niềm cảm thông sâu sắc nhất, giờ đây ngấm ngầm không ưa vị giám khu trưởng. Khi tất cả mọi việc đã qua, ông không khỏi âm thầm tự thị về mình.

Hai bé gái hẳn nhiên chấp nhận quyết định của gia đình, theo kiểu cách mập mờ của trẻ con. Bà nội, đã quá bảy mươi với thị lực đang giảm sút, trở thành nhân vật trung tâm của ngôi nhà. Cô Cissie, hơn bốn mươi tuổi, xanh xao, ngoan đạo và mòn rữa như thể bị một thứ sâu bọ nào đục khoét từ bên trong, nhận trách nhiệm quản gia. Chú Fred, một người đàn ông cáu bẳn với gương mặt nhợt nhạt ở độ tứ tuần, sống bê bối một cách cô độc, ngày ngày đều ra thị trấn. Và ngài giám khu trưởng tất nhiên có vị trí quan trọng thứ nhì, sau bà nội.

Mọi người gọi bà nội là Trưởng Mẫu  [3] . Bà là một trong những sinh thể già nua, khôn ngoan và thô kệch đã quen làm mọi việc theo ý mình cả đời bằng cách lợi dụng sự yếu đuối của những người xung quanh. Bà nắm bắt vị thế của mình rất nhanh. Vị giám khu trưởng vẫn còn “yêu” người vợ tội lỗi của mình, và sẽ mãi “yêu” cô đến chết. Vậy thì… suỵt! Ðừng xâm phạm đến tình cảm thiêng liêng của ông ấy. Trái tim ông ấy vẫn phụng thờ người thiếu nữ trong trắng ông đã cưới và tôn sùng.

Bấy giờ, bên ngoài thế giới xấu xa kia, người đàn bà nhơ nhuốc đã bội phản ngài giáo khu trưởng và từ bỏ những đứa con bé bỏng của mình đang lang thang vô định. Cô ả đã bị gông xiềng vào một gã trẻ trai hạ tiện, người chắc chắn sẽ mang cô ả đến với sự tha hóa mà cô ả xứng đáng được hưởng. Hãy hiểu cho ra lẽ, và khép miệng lại! Bởi hình ảnh cô dâu trẻ tinh khôi như bông tuyết trắng ngần vẫn nở rộ trong trái tim thanh cao của mục sư. Ðóa hoa này không hề tàn héo. Còn sinh vật đã cuốn gói với gã trẻ trai hạ tiện kia thì không liên quan gì đến ông.

Trưởng Mẫu, người một thời đã thu nhỏ mình lại như một góa phụ tầm thường dưới mái nhà bé hẹp, giờ đây leo lên chiếc ngai chủ chốt trong tòa mục sở, xác lập lại địa vị già nua của mình. Bà sẽ không để mình bị hạ bệ. Bà ranh mãnh buông một tiếng thở dài kính trọng đối với lòng trung thành mục sư dành cho đóa hoa tuyết trắng tinh khôi, đồng thời làm bộ chê trách nó. Trong sự tôn kính quỷ quyệt dành cho tình yêu vĩ đại của con trai, bà không nói lời nào chống lại nhánh tầm ma đã nảy nở trong thế giới xấu xa kia, kẻ một thời được gọi là phu nhân Arthur Saywell ấy. Giờ thì ơn trời, cô ả đã tái hôn và không còn là phu nhân Arthur Saywell nữa. Chẳng còn người đàn bà nào mang tên ngài giáo khu trưởng nữa. Bông tuyết trắng tinh khôi sẽ nở rộ mãi mãi kia không có danh xưng. Cả gia đình nhớ về cô như Kẻ-vốn-dĩ-là-Cynthia.

Tất cả những điều này là dòng nước chảy trong cối xay của Trưởng Mẫu. Nó bảo đảm cho bà chống lại ý định tái hôn của Arthur. Bà nắm ông trong tay nhờ chính sự yếu hèn nhu nhược, tính tự ái hay né tránh của ông. Ông đã cưới một bông tuyết trắng bất tử. May mắn cho ông! Ông đã bị tổn thương! Bất hạnh cho ông! Ông đã đau khổ. A, đúng là một trái tim yêu đích thực. Và ông đã… tha thứ! Phải, đóa hoa tuyết trắng đã được thứ tha. Ông thậm chí còn để phần di chúc cho cô phòng hờ khi nào tên vô lại kia… Nhưng im nào! Ðừng có mà nghĩ nhiều quá đến thứ tầm ma dễ sợ bên ngoài thế giới tởm lợm kia! Kẻ-vốn-dĩ-là-Cynthia. Hãy để bông tuyết trắng bung xòe ngoài tầm với, trên đỉnh cao dĩ vãng. Hiện tại là chuyện khác.

Ðám trẻ được nuôi dạy trong bầu không khí tự-thần-thánh-hóa-bản thân và miễn-bàn-đến khéo léo này. Chính chúng cũng thấy đóa hoa tuyết trên đỉnh cao ngoài tầm với. Chúng cũng biết nó ngự trị đơn độc trên đỉnh nguy nga cách biệt hẳn cuộc đời chúng, không ai được chạm vào.

Trong khi đó, đôi khi người ta vẫn nghe thấy mùi vị xấu xa, tởm lợm của lòng ích kỷ và dục vọng tha hóa từ thế giới bẩn thỉu ngoài kia tràn về. Cái mùi của cây tầm ma dễ sợ, Kẻ-vốn-dĩ-là-Cynthia ấy. Cây gai này quả thật đã xoay xở từ xa để luồn vài dòng nhắn gửi tới các con gái mình. Và trước cảnh đó, Trưởng Mẫu tóc bạc âm thầm lắc đầu ghét bỏ. Bởi nếu Kẻ-vốn-dĩ-là-Cynthia quay lại, sẽ chẳng còn chỗ cho Trưởng Mẫu. Nỗi hằn thù kín đáo được truyền từ bà nội già nua sang đám con gái, máu mủ của thứ cây gai đầy dục vọng tội lỗi ấy, bằng ý tưởng Cynthia đã có thái độ miệt thị dữ dội với bà.

Trộn lẫn vào những gieo rắc này là ký ức xa vắng của đám trẻ về ngôi nhà thực của chúng, tòa nhà sở ở miền nam, cùng người mẹ hấp dẫn nhưng không đáng tin cậy lắm của chúng, Cynthia. Mẹ toát ra hào quang rực rỡ và sức sống tràn trề, tựa hồ một vầng mặt trời linh động mà đáng sợ trong nhà, cứ đi đi về về không ngớt. Bọn trẻ luôn luôn đánh đồng sự hiện diện của mẹ với ánh sáng lẫn hiểm nguy, với sức hút lẫn cái tôi dễ sợ.

Giờ thì sức hút ấy không còn nữa, và bông tuyết trắng đã đóng băng nơi nấm mồ như một vòng hoa bằng sứ. Mối nguy hiểm của sự bấp bênh, dạng hiểm nguy bất thường của lòng vị kỷ, như loài hổ báo sư tử, cũng đã tiêu tan. Chỉ còn lại sự ổn định hoàn hảo cho mọi người được tàn lụi đi trong an bình.

Nhưng đám trẻ đang lớn. Và chúng càng lớn, những phân vân thắc mắc trong chúng càng rõ rệt và linh hoạt hơn. Trưởng Mẫu càng cao tuổi, cặp mắt bà càng mờ dần. Người ta phải dẫn bà đi lại. Bà ngủ đến giữa trưa mới dậy. Thế nhưng dù đã lòa hay liệt giường, bà vẫn cai quản ngôi nhà.

Hơn nữa, bà chẳng phải liệt giường. Bất cứ khi nào mọi người có mặt, Trưởng Mẫu cũng hiện diện trên ngai. Bà quá tinh khôn để bị xao lãng. Nhất là khi bà có kình địch.

Kình địch của bà là cô cháu gái út, Yvette. Ðối với Kẻ-vốn-dĩ-là-Cynthia, Yvette có phần vô tâm không để bụng. Nhưng cô bé ngoan ngoãn hơn chị mình. Có lẽ bà nội đã nắm thóp cô đúng lúc. Có lẽ!

Ngài mục sư yêu quý Yvette, và nuông chiều cô một cách trìu mến nồng nhiệt, đến mức ông có thể nói: ta chẳng phải một gã trai già mềm lòng, khoan dung đấy ư! Ông thích sự yếu mềm trong từng chân tơ kẽ tóc. Bà biết rõ những quan niệm này của ông về chính mình, và bà lợi dụng chúng, lấy chúng để tô điểm cho ông cùng cá tính của ông. Ông muốn thấy chính mình mang một tính cách quyến rũ, cũng như nữ giới muốn thấy chính mình ăn vận quyến rũ vậy. Và Trưởng Mẫu khôn khéo đắp nốt ruồi duyên lên từng khuyết điểm, nhược điểm của ông. Tình mẫu tử chỉ dẫn cho bà thấy những điểm yếu của con trai, và bà giúp ông che đậy, trang hoàng lên chúng. Ấy thế mà Kẻ-vốn-dĩ-là-Cynthia! Nhưng đừng nhắc đến  cô ta  trong mối liên hệ này. Dưới mắt cô ta, ngài mục sư gần như là một gã gù ngu ngốc.

Buồn cười một nỗi, bà nội ngấm ngầm ghét bỏ Lucille, cô cháu lớn, hơn là đứa cháu nhỏ được nuông chiều Yvette. Lucille, cáu kỉnh và hay bứt rứt, có ý thức rõ ràng về quyền hành của bà nội hơn em gái Yvette trái tính lơ đễnh.

Cô Cissie, ngược lại, ghét Yvette. Cô ghét cả cái tên của cháu gái. Cuộc đời cô Cissie đã cống hiến cho Trưởng Mẫu, cô biết vậy, và Trưởng Mẫu biết cô biết vậy. Năm tháng qua đi, điều ấy trở thành thông lệ. Sự hy sinh của cô Cissie đã là một thông lệ mà mọi người, kể cả chính bản thân cô, chấp nhận. Cô cầu nguyện rất nhiều về việc ấy. Chứng tỏ người phụ nữ đáng thương cũng có tình cảm riêng tư gửi gắm đâu đó. Cô đã thôi làm Cissie, đã để mất cuộc đời và giới tính của mình. Và giờ đây, khi cô trườn dần đến tuổi ngũ tuần, những cơn giận dữ lạ lùng thường bùng lên nơi cô như những ánh lửa xanh lè, khiến cô mất cả lý trí.

Nhưng bà nội, bằng quyền lực của mình, đã kiềm hãm cô lại. Bởi mục đích cuộc đời cô là trông nom Trưởng Mẫu.

Ngọn lửa địa ngục xanh lét hằn thù trong cô Cissie đôi khi bùng lên trước lớp trẻ. Người phụ nữ khốn khổ vẫn cầu nguyện, mong ơn trên thứ tha cho mình. Nhưng những gì người ta làm cho cô thì  cô  không đời nào tha thứ. Và sự cay độc thi thoảng lại bật ra trong dáng điệu của cô.

Tâm hồn Trưởng Mẫu chẳng phải ấm áp, từ ái gì. Chẳng qua bà khôn khéo tỏ ra như thế. Và thực tế dần dần hé rạng trước hai cô cháu gái. Bên dưới chiếc mũ ren lỗi thời, mớ tóc bạc và lớp lụa đen bọc quanh thân thể mập mạp phình về phía trước, người đàn bà này mang một trái tim xảo quyệt, không ngừng kiếm tìm quyền lực nữ giới cho riêng mình. Và bà duy trì quyền lực thông qua sự yếu hèn của những con người mụ mẫm, trì độn mà bà đã dưỡng dục, khi vòng đời bà tiếp tục lăn từ thất thập đến bát thập, rồi từ bát thập bước vào một quãng đời mới, tuổi chín mươi.

Có cả một truyền thống “trung thành” trong gia đình này: trung thành với nhau, đặc biệt là với Trưởng Mẫu. Trưởng Mẫu tất nhiên là trụ cột của gia đình. Gia đình là bản thể mở rộng của chính bà. Ðương nhiên bà bao bọc nó với quyền lực của mình. Và đương nhiên các con trai con gái yếu ớt, rã rượi của bà phải trung thành. Bên ngoài gia đình có gì cho chúng ngoài hiểm nguy, chấn thương và nhục nhã? Chẳng phải mục sư đã chiêm nghiệm điều đó trong cuộc hôn nhân của mình? Vậy thì giờ hãy cẩn trọng! Cẩn trọng và trung thành, đối mặt với thế giới! Hãy để những căm ghét và xích mích  trong phạm vi  gia đình bao nhiêu tùy thích. Và dựng lên trước thế giới bên ngoài bức rào kiên cố của đồng nhất và hòa hợp.


 

 

   [1]    Nguyên văn: vicar - một chức danh của mục sư phụ trách giáo khu thuộc Giáo hội Anh.

   [2]    Nguyên văn: rector - chức danh của mục sư đứng đầu một giáo phận thuộc Giáo hội Anh. Lawrence sử dụng chức danh này để chỉ nhân vật Arthur Saywell từ đây cho đến suốt cuốn truyện. Người dịch mạn phép gọi ông đơn giản là “mục sư”.

   [3]    Nguyên văn: The Mater - Mẹ.

II

Thế nhưng chỉ đến khi thôi học về nhà, các cô gái mới cảm nhận được toàn bộ sức nặng của bàn tay già cỗi, tê dại của bà nội trên cuộc đời mình. Bấy giờ Lucille gần hai mươi mốt tuổi, còn Yvette lên mười chín. Cả hai đã theo học một trường nữ sinh tốt, đã qua năm cuối cấp ở Lausanna [1] , và cũng như bao cô gái bình thường khác, đã trở thành những tạo vật ở độ thanh xuân, dong dỏng cao với gương mặt tươi tắn và nhạy cảm, mái tóc dài ngang vai cùng cung cách nam nhi trời ơi đất hỡi.

“Papplewick  tẻ  đến chết đi được.” Yvette than vãn, khi hai chị em đang đứng trên mạn thuyền ngắm nhìn vách đá xám xịt Dover từ từ tiến lại, “Chẳng có lấy một  người đàn ông  nào quanh đây. Tại sao ba không có ông bạn dễ thương nào cả? Chú Fred thì thật không chấp nhận được!”

“Ôi, em không biết được điều gì sẽ đến đâu.” Lucille bình tĩnh hơn, đáp.

“Biết rõ quá đi chứ.” Yvette nói. “Chủ nhật đi dự xướng ca, mà em chúa ghét hợp ca. Giọng bọn con trai nghe rõ  đáng yêu  khi không có phụ nữ. Rồi Trường học Chủ nhật và những buổi hội họp giao tế kiểu Bạn hữu Thanh nữ, với những linh hồn đáng kính già nua hè nhau thăm hỏi bà nội! Chả có lấy một chàng trẻ trai đàng hoàng trong vòng bán kính một dặm.”

“Chà, chị không rõ!’ Lucille đáp. ‘Vẫn còn nhà Framley. Và em cũng biết Gerry Somercotes  mến mộ  em mà.”

“Ôi nhưng em  ghét  đám người mến mộ em!’ Yvette kêu, hỉnh chiếc mũi thính nhạy của mình lên. “Họ làm em  phát chán.  Cứ bám theo nhằng nhẵng như đỉa ấy.”

“Ờ vậy thì em muốn gì đây, nếu em không chịu người ta mến mộ mình? Chị thấy hoàn toàn tốt khi được mến mộ. Mình biết mình sẽ chẳng đời nào cưới họ, thì sao lại không để họ tiếp tục yêu thích mình, nếu điều đó làm họ vui.”

“Ối nhưng em  muốn  lấy chồng mà.” Yvette kêu lên.

“Ừm thì trong trường hợp đó, cứ để họ tiếp tục theo đuổi em cho đến khi em tìm thấy người mình  có thể  lấy làm chồng.”

“Em không thể làm thế. Chả có gì khiến em ngao ngán hơn là một gã trồng cây si. Họ làm em chán ốm! Thấy gớm thế nào ấy.”

“Ồ, khi họ tấn công chị thì chị cũng thấy thế. Nhưng một khi họ giữ khoảng cách, chị nghĩ họ khá dễ thương.”

“Chắc em sẽ sung sướng khi yêu ai đó thật  mãnh liệt  .”

“Ờ, dám lắm! Chắc chị thì không đâu! Chị sẽ ghét lắm. Không chừng em cũng vậy nếu điều đó thật sự xảy ra. Nói gì thì nói, chúng ta nên yên phận một tí trước khi thật sự biết rõ mình muốn gì.”

“Nhưng lẽ nào chị không  ghét  quay lại Papplewick?” Yvette kêu và lại hỉnh chiếc mũi thanh thanh, nhạy cảm lên.

“Không, không nhất thiết. Chị cho là chúng mình sẽ hơi buồn chán ở đó. Ước gì ba mua xe hơi nhỉ? Có lẽ mình sẽ phải lôi mấy cái xe đạp cũ ra. Em có muốn lên đồng hoang Tansy chơi không?”

“Ồ em  thích  lắm! Mặc dù đẩy xe đạp lên những ngọn đồi dốc đó kể cũng căng đấy.”

Con thuyền đã tiến lại gần vách đá. Ðó là một ngày hè ảm đạm. Hai thiếu nữ vận áo choàng với cổ áo bằng lông lật lên, mũ đội đầu bảnh chọe phủ xuống quá mang tai. Cao lớn, mảnh dẻ, tươi tắn, ngây thơ, nhưng tự tin, quá đỗi tự tin, dáng dấp nữ sinh kiêu ngạo của hai cô toát ra khí chất người Anh thực thụ. Dẫu phong thái tự do nhường ấy, thực tế là họ bị trói buộc giữa trăm mối tơ vò bên trong chính họ. Dẫu vẻ ngoài hiếu động và cá tính nhường ấy, sự thật là họ tầm thường và khép kín trong bốn bức tường bên trong chính họ. Họ như những con thuyền buồm phơi phới, dạn dĩ, vừa buông mình từ cầu cảng ra biển đời mênh mông. Còn thực tế, họ là những sinh mệnh non nớt và đáng thương không người lèo lái, trôi dạt từ bến bờ xiềng xích này sang bến bờ xiềng xích khác.

Một luồng khí lạnh lẽo xộc vào tim họ khi họ tiến vào bên trong tòa mục sở. Ngôi nhà trông xấu xí, có phần nhớp nhúa, với không khí ẩm ướt kiểu trung lưu, một vẻ tiện nghi đang trên đà thoái hóa không còn chất tiện nghi mà đã trở nên ngột ngạt, bẩn thỉu. Ngôi nhà đá thô cứng đem lại cho hai cô gái ấn tượng không sạch sẽ, mà họ chẳng thể giải thích vì sao. Những vật dụng nội thất xoàng xĩnh có vẻ gì dơ dáy, không tươi mới chút nào. Ngay cả thực phẩm trong các bữa ăn cũng mang vẻ tồi tàn, ảm đạm khủng khiếp, khó chịu làm sao đối với một thanh niên vừa từ ngoại quốc trở về. Bò quay và bắp cải nhũn, cừu đông lạnh và khoai tây nghiền, dưa chua, và món bánh pudding không cứu vãn nổi.

Bà nội, người vốn rất mê “một chút thịt heo”, dùng phần ăn đặc biệt, nước xốt thịt bò, bánh lương khô hoặc ít bánh sữa trứng mặn. Cô Cissie mặt tái không ăn tí gì. Cô ngồi xuống bàn, lấy vào đĩa vẻn vẹn một miếng khoai tây luộc. Cô không bao giờ ăn thịt. Thế là cô ngồi đó với vẻ gò ép thê lương, trong khi bữa ăn cứ tiếp tục, và bà nội lẹ làng liếm láp phần ăn của mình - nếu may mắn không đánh vãi tí gì lên chiếc bụng trương phình của bà. Bản thân món ăn không hề khoái khẩu: làm sao ngay chính cô Cissie cũng ghét những thức ăn ấy, ghét việc phải ăn chúng, mà chẳng bao giờ giữ được một nữ phục vụ quá ba tháng trời? Vừa ăn vừa lợm giọng, Lucille can đảm chịu đựng, trong khi chiếc mũi tinh tế của Yvette bộc lộ sự ghê tởm. Duy chỉ ngài mục sư tóc bạc lấy khăn ăn chùi hàng ria mép đã điểm hoa râm, cất tiếng bông đùa. Suốt ngày ngồi trong phòng làm việc mà chẳng bao giờ rèn luyện thân thể, bản thân ông cũng ngày một nặng nề và trì trệ. Nhưng ông vẫn luôn luôn bật ra được những câu đùa châm biếm nho nhỏ, nơi bàn ăn đó, dưới sự chở che của Trưởng Mẫu.

Với những triền đồi dốc đứng và thung lũng hẹp sâu thăm thẳm, vùng thôn dã trông tối tăm và ảm đạm, nhưng đồng thời cũng có thế mạnh nhất định của nó. Cách đó hai mươi dặm là khu công nghiệp hắc ám của miền Bắc. Tuy vậy làng Papplewick có phần cô lẻ, gần như lạc lõng, và cuộc sống bên trong nó thì lạnh lẽo khắc nghiệt. Vạn vật ở đây là đá tảng, khô cứng đến mức thi vị, một sự khô cứng vô chừng.

Ðúng như những gì hai cô gái đã lường trước: các cô quay lại đội hợp xướng, góp sức vào công việc trong giáo phận. Nhưng Yvette nhất mực chống đối lại Trường học Chủ nhật, Dải băng Hy vọng, Bạn hữu Thanh nữ - chính xác là tất cả những màn hội họp do các bà cô già và các ông lớn tuổi ngốc nghếch, ngoan cố lập ra. Nàng hết sức né tránh bổn phận con chiên, và bỏ ra khỏi nhà bất cứ khi nào có dịp. Nhà Framley, một gia đình đông đúc, vui tươi, bừa bãi sống trên khu Grange, là chốn nương thân dự phòng của nàng. Và nếu có ai đó rủ nàng đi ăn, hay thậm chí một người đàn bà trong những gia đình công nhân mời nàng ghé lại uống trà, nàng sẽ nhận lời tức khắc. Thực tế là điều đó còn làm nàng xúc động. Nàng thích trò chuyện với những người lao động tay chân, những cái đầu cứng rắn mà cao thượng ấy. Nhưng hẳn nhiên họ thuộc về một thế giới khác.

Nhiều tháng trôi qua. Gerry Somercotes vẫn đeo đuổi Yvette. Ngoài ra còn có vài cậu con trai của các nông dân, chủ cối xay nữa. Yvette đáng lẽ đã có một thời gian tuyệt vời. Nàng thường xuyên ra ngoài dự tiệc và khiêu vũ. Bạn bè đến đón nàng trong những chiếc xe hơi, đưa nàng lên thành phố, tới những vũ hội chiều chiều tổ chức trong khách sạn chính, hay tại Cung Vũ Ðạo tráng lệ mới xây, còn được gọi là Pally.

Thế mà nàng vẫn mang đó dáng vẻ một con thú bị thôi miên. Nàng chưa bao giờ thực sự thoải mái vui tươi. Sâu thẳm bên trong nàng vẫn day dứt một nỗi bức bối không chịu đựng nổi, một cảm giác mà nàng nghĩ mình không nên có, nàng ghét nó và chính vì thế lại làm cho nó thêm tồi tệ. Nàng không sao hiểu được nó phát xuất từ đâu.

Lúc ở nhà, nàng thực sự gắt gỏng, vô lễ thái quá với cô Cissie. Và thực tế là tính khí tệ hại của nàng đã trở thành một trong những trò cười của gia đình.

Lucille, bao giờ cũng thực tế hơn, tìm được công việc trong thành phố, làm thư ký riêng cho một quý ông cần người thông thạo tiếng Pháp và biết tốc ký. Nàng đi đi về về hằng ngày trên cùng một chuyến tàu với chú Fred. Nhưng nàng không bao giờ đồng hành với chú, mà dù nắng hay mưa, vẫn một mình đạp xe ra ga, trong khi ông chú thì đi bộ.

Cả hai chị em đều xác định rằng điều họ muốn là một cuộc sống giao tế thật sự tươi vui. Và họ thù ghét dữ dội việc tòa mục sở không đáp ứng được những cuộc gặp gỡ bạn bè của họ. Tầng lầu dưới chỉ có bốn phòng: nhà bếp, nơi ở của hai cô phục vụ bất mãn; phòng ăn âm u; phòng làm việc của ngài mục sư; và gian phòng khách - hay phòng vẽ - rộng lớn, “mộc mạc”, buồn thảm. Lò sưởi trong phòng ăn chạy bằng gas. Chỉ có ngọn lửa nơi phòng khách là nóng ấm và liên tục cháy đều. Bởi vì, dĩ nhiên, đây là nơi bà nội ngự trị.

Trong gian phòng này cả gia đình thường họp mặt. Tối nào cũng vậy, cứ sau bữa ăn là chú Fred và ngài mục sư lại chơi ô chữ với bà.

“Nào, Trưởng Mẫu, mẹ sẵn sàng chưa? N ô trống ô trống ô trống ô trống W: một viên chức người Xiêm.”

“Hở? Hở? M ô trống ô trống ô trống ô trống W hở?”

Bà nội bị lãng tai.

“Không, mẹ à. Không phải M! N ô trống ô trống ô trống ô trống W: một viên chức người Xiêm.”

“N ô trống ô trống ô trống ô trống W: một viên chức người Chiêm  [2]    .”

“XIÊM.”

“Ớ?”

“XIÊM! XIÊM!”

“Một viên chức người Xiêm. Xem nào, có thể là gì nhỉ?” Bà cụ nói một cách thâm thúy, đôi bàn tay gấp lại trên chiếc bụng tròn. Hai người con trai của bà tiếp tục đưa ra gợi ý, và bà đáp lại “À! À!” Ngài mục sư giải ô chữ lanh lẹ đến không ngờ. Còn Fred chỉ có chút ít vốn từ vựng chuyên môn.

“Ðây hẳn là một quả khó nhằn  [3] .” Bà cụ bảo, khi cả ba cùng bí thế.

Trong khi đó Lucille ngồi một góc với hai tay bịt tai, giả vờ đọc sách, còn Yvette hoặc cáu kỉnh vẽ vời, hoặc to tiếng ngâm nga những giai điệu cáu bẳn, hòa thêm vào bản nhạc gia đình. Cô Cissie liên tục nhón lấy một thanh kẹo chocolate, cho quai hàm hoạt động không ngơi nghỉ. Cô là người sống bằng chocolate đúng nghĩa. Cô ngồi cách đó khá xa, bỏ một thanh kẹo nữa vào miệng, và lại liếc nhìn vào tờ tạp chí giáo dân. Rồi cô ngẩng đầu lên và nhận thấy đã đến giờ pha Horlicks [4] cho bà nội.

Khi cô đi rồi, Yvette cáu tiết mở cửa sổ ra. Gian phòng này chẳng bao giờ thoáng đãng, nàng hình dung nó bốc mùi của bà nội. Và bà nội, người vốn nghễnh ngãng, lại bất thần thính như một con sóc khi không cần phải thính.

“Cháu vừa mở cửa sổ hả, Yvette? Ta nghĩ cháu nên nhớ là có những người lớn hơn cháu trong phòng này đấy.” Bà nói.

“Phòng ngột ngạt quá! Không thể chịu nổi! Chẳng trách cả nhà mình lúc nào cũng cảm lạnh.”

“Bà chắc là phòng đủ rộng, và đủ lửa cháy.” Bà già khe khẽ nhún vai. “Một cơn gió lùa đủ để giết chết tất cả chúng ta.”

“Chả phải gió lùa gì đâu.” Yvette hét lên. “Chỉ một luồng không khí trong lành thôi.”

Bà già lại nhún vai, và đáp: “Thật vậy!”

Ngài mục sư im lặng tiến tới bên cửa sổ và quả quyết khép nó lại. Ông không nhìn con gái. Ông ghét ngăn trở nàng. Nhưng nàng phải biết điều chứ!

Trò chơi ô chữ, công trình do đích thân quỷ Satan tạo ra, tiếp diễn cho đến khi bà nội dùng xong món Horlicks và lên giường nghỉ ngơi. Thế là lại đến nghi lễ Chúc ngủ ngon! Mọi người cùng đứng dậy. Hai thiếu nữ đến gần cho bà cụ mù lòa hôn, ngài mục sư chìa tay ra cho cụ, và cô Cissie theo sau với một ngọn nến.

Nhưng bấy giờ đã là chín giờ, mà bà nội thì ngày một già yếu, lẽ ra phải đi nghỉ sớm hơn. Vậy mà vào giường rồi, bà cụ vẫn không ngủ được, cho đến khi cô Cissie vào.

“Con thấy đấy.” Bà nội nói. “Ta  chưa bao giờ  ngủ một mình. Suốt năm mươi bốn năm liền ta đã quen ngủ trong vòng tay của cha con. Ông ấy đi rồi, ta cố sức ngủ một mình. Những hễ mắt ta nhắm lại để ngủ, trái tim ta lại muốn nhảy thót ra ngoài, và ta cứ nằm đó, trống ngực đập thình thình. Ồ, con muốn nghĩ sao cũng được, nhưng đó là một trải nghiệm đáng sợ, sau bốn mươi năm hôn nhân hoàn mỹ! Ta có thể cầu trời cho ta được chết trước, nhưng cha con, ừm, ta cho là ông ấy sẽ không chịu đựng nổi điều đó.”

Thế là cô Cissie ngủ với bà nội. Và cô ghét việc đó. Cô nói  cô  không sao ngủ nổi. Mỗi ngày cô một thêm xanh xao, đồ ăn trong nhà thêm tồi tệ, và cuối cùng cô phải đi giải phẫu.

Nhưng Trưởng Mẫu vẫn phơi phới lên hơn bao giờ hết, nhất là lúc ban trưa. Vào những bữa ăn giữa ngày, bà ngự trong chiếc ghế bành, bụng phình lên; gương mặt hồng hào lắc lư mang một vẻ uy nghi đáng sợ, chảy dài xuống bên dưới vầng trán cao, đôi mắt xanh chú mục vào hư không. Mái tóc bạc của bà ngày một lưa thưa, có phần thiếu chỉnh tề. Ngài mục sư vui tính vẫn bông đùa cho bà nghe, trong khi bà làm bộ chê trách. Tuy thế, bà hoàn toàn hài lòng khi được ngồi đó trong sự phì nộn cố hữu, xì hơi từ ruột ra sau mỗi bữa ăn, và dùng tay ấn vào bầu ngực mình trong lúc người ‘nở căng’ vì ứ đầy thỏa mãn.

Ðiều hai chị em phiền nhất chính là, bất cứ lúc nào họ đưa bạn bè mình về nhà, bà nội cũng có mặt ở đó, như một biểu tượng xác thịt già nua tôn nghiêm, thu hết sự chú ý về mình. Chỉ có một gian phòng duy nhất cho mọi người. Và bà già ngồi đó, với dì Cissie cay cú canh gác một bên. Ai cũng phải trình diện bà nội trước: bà sẵn sàng tỏ ra thân ái, bà thích bầu bạn. Bà cần phải biết ai là ai, họ đến từ đâu, và mọi ngóc ngách của đời họ. Và một khi đã  quen thân  rồi, bà sẽ nắm được cuộc đối thoại.

Với hai chị em, chẳng có gì đáng quạu hơn thế. ‘Cụ Saywell thật tuyệt vời, phải không! Gần chín mươi rồi mà còn hào hứng với cuộc đời  biết bao  !’

‘Bà ấy quả là hứng thú với chuyện thiên hạ, nếu ta gọi đó là cuộc đời,’ Yvette đáp.

Nói xong nàng liền thấy có lỗi. Nói gì thì nói, chẳng tuyệt vời sao khi đã gần chín mươi mà vẫn còn minh mẫn nhường ấy! Vả lại bà nội có làm hại gì ai đâu. Ðúng hơn là bà gây trở ngại. Mà ghét ai đó chỉ vì họ già nua và gây trở ngại thì không hay tí nào.

Yvette lập tức hối hận và tỏ ra dễ thương. Bà nội bắt đầu hồi tưởng lại cái thời bà còn là một thiếu nữ ở thị trấn bé nhỏ Buckinghamshire. Bà cứ thế nói miên man, nghe vô cùng thú vị. Trông bà quả thật tuyệt vời.

Chiều hôm đó Lottie, Ella và Bob Framley đến nhà, cùng với Leo Wetherell.

“Ôi, mời vào!” Họ cùng nhau quây quần trong phòng khách, nơi bà nội đang ngồi bên đống lửa với chiếc mũ bịt đầu màu trắng.

“Thưa nội, đây là anh Wetherell.”

“Anh gì-cơ? Xin lỗi nhé, ta hơi điếc!”

Bà nội chìa tay ra cho anh chàng đang lúng túng, lặng lẽ hướng mắt vào anh dù bà chẳng thấy gì.

“Anh không phải người thuộc giáo phận này?” Bà hỏi.

“Dinnington!” anh chàng nói to.

“Ngày mai chúng cháu định lên đỉnh Bonsall dã ngoại bằng xe hơi của Leo. Xe vừa đủ chỗ cho cả đám ngồi chen chúc.” Ella nói lí nhí.

“Cháu bảo đỉnh Bonsall hả?’ Bà nội hỏi.

“Vâng!”

Yên lặng hoàn toàn.

“Cháu bảo các cháu sẽ đi xe hơi?”

“Vâng! Xe của anh Wetherell.”

“Ta mong là cậu ấy lái xe giỏi. Ðường đi hiểm trở lắm đấy.”

“Anh ấy lái xe giỏi lắm.”

“Không giỏi lắm hả.”

“Giỏi ạ! Rất giỏi.”

“Nếu các cháu đến đỉnh Bonsall, chắc ta sẽ chuyển lời nhắn đến cho phu nhân Louth.”

Hễ có người ở bên là bà nội lại kéo phu nhân Louth đáng thương này vào câu chuyện.

“Ôi, tụi cháu sẽ không đi ngang đường đó đâu.” Yvette kêu lên.

“Ðường nào?” Bà nội bảo. “Các cháu nhất định phải đi qua Heanor.”

Cả bọn nhấp nhỏm trên ghế như những con vịt nhồi - như lời Bob tả.

Cô Cissie bước vào, tiếp đó là cô phục vụ với khay trà. Có cả một suất bánh ngọt đặt mua muôn thuở. Rồi lại thêm một đĩa bánh nho nhỏ mới làm. Hẳn là cô Cissie đã đặt hàng cho tiệm bánh.

“Trà đây thưa Trưởng Mẫu!”

Bà già nắm chặt lấy tay vịn ghế bành. Mọi người cùng nhỏm người đứng lên, trong lúc bà chậm chạp vươn dậy một cách khó nhọc, tựa vào cánh tay cô Cissie, tiến tới chỗ của bà bên bàn ăn.

Tiệc trà đang diễn ra thì Lucille từ thị trấn trở về sau một ngày làm việc. Nàng mệt mỏi rõ rệt với hai quầng thâm dưới mắt. Nhìn thấy đám đông khách khứa, nàng liền kêu thốt lên.

Khi tiếng ồn ào đã ngớt, và sự khó xử bắt đầu trở lại, bà nội nói:

“Cháu chưa từng kể ta nghe về cậu Wetherell, phải không Lucille?”

“Cháu không nhớ ạ.” Lucille đáp.

“Chắc chắn là chưa. Ta nghe cái tên này lạ lắm.”

Yvette lơ đãng chộp lấy một chiếc bánh nữa từ cái đĩa đã gần sạch bách. Cung cách vô tâm của nàng khiến cô Cissie điên tiết, và một cơn ghen ghét bùng lên trong lòng cô. Cô nhấc đĩa bánh của mình lên, trên đó có chiếc bánh cô đã tự lấy cho mình, đưa cho Yvette và nói bằng giọng lịch sự mà chua cay:

“Sao không lấy của cô này?”

“Ồ cám ơn cô!” Yvette đáp với vẻ tức giận mơ hồ. Rồi cũng bằng điệu bộ vô tâm đó, nàng tự nhiên lấy nốt phần bánh của cô Cissie, lại còn nói thêm: “Nếu quả thực cô không muốn ăn.”

Giờ thì nàng đã có hai chiếc bánh trong đĩa mình. Lucille lúi cúi pha trà, mặt trắng bệch như tờ giấy. Cô Cissie ngồi đó, xanh mét vì cam chịu lẫn thù hằn. Sự khó xử đã đến mức cực độ.

Bà nội, người vẫn kềnh càng ngự trị ở đó, không hay biết gì, thản nhiên cất tiếng giữa vòng người lốn nhốn:

“Nếu cháu cũng đi xe tới đỉnh Bonsall ngày mai, Lucille, ta mong cháu chuyển lời ta đến phu nhân Louth.”

“Ồ!” Lucille phóng một ánh nhìn kỳ lạ về phía bà cụ mù lòa. Phu nhân Louth là người đứng đầu gia tộc vua Charles, luôn luôn được bà nội đem ra mua vui cho khách khứa. “Ðược ạ!”

“Tuần rồi bà ấy đã gửi người đánh xe mang đến cho ta một quyển trò chơi ô chữ, thật là tử tế.”

“Nhưng bà đã cám ơn bà ấy lúc đó rồi mà.” Yvette kêu lên.

“Ta muốn gửi bà ấy một lá thư.”

“Có thể gửi qua bưu điện mà.” Lucille kêu.

“Ồ không! Ta muốn cháu mang nó đi. Lần trước khi phu nhân Louth gọi đến…”

Các cô cậu thanh niên ngồi im thin thít như một bầy cá con chờ mồi nơi mép nước, trong khi bà nội tiếp tục thao thao về phu nhân Louth. Cô Cissie thì vẫn đang bất lực, gần như bất tỉnh, trong cơn thịnh nộ xoay quanh cái bánh, hai chị em biết thế. Chưa biết chừng bà cô tội nghiệp đang cầu nguyện.

Ơn phước là cuối cùng đám bạn cũng ra về. Tuy vậy cả hai chị em đều đã mệt phờ. Và chính khi đó, Yvette ngoảnh lại và bất giác nhận ra nơi bà nội già nua, đầy vẻ từ mẫu của mình, một ý chí quyền hành sắt đá, không chút khoan nhượng. Bà ngồi đó bình thản, người phùng lên trong chiếc ghế bành, gương mặt già đỏ đắn, chảy xệ, lấm tấm đồi mồi, có phần mụ mị mà cứng rắn, tựa hồ chiếc mặt nạ che giấu một sự tàn nhẫn, chai đá đằng sau. Ðó là sức ì bất biến của quyền lực kinh khiếp nơi bà. Trong một phút ngắn ngủi, bà đã hé cái miệng già nua của mình ra, khai thác mọi thông tin về Leo Wetherell. Bấy giờ bà ngơi nghỉ trong tuổi già. Nhưng trong cái phút hé miệng ấy, tâm trí bà bừng tỉnh và cùng với lòng tham sống vô độ, nỗi thèm muốn cuộc sống của mọi người, bà bắt đầu sục sạo từng chân tơ kẽ tóc. Bà giống như một con cóc già mà Yvette từng thích thú quan sát, khi nó bất ngờ nhảy lên ngồi trên gờ tổ ong, ngay trước khe cửa hẹp nơi đám ong ló đầu ra, và chỉ với một cú táp chớp nhoáng của chiếc quai hàm tổ bố, đã đớp lấy từng con ong một sẵn sàng phóng vào không trung, nuốt gọn hết con này đến con khác, tựa hồ nó nuốt trọn được cả chiếc tổ ấy vào trong cơ thể phùng phình, nhăn nheo, già chát của mình. Cứ thế mỗi dạo lũ ong bay ra ngoài không trung vào tiết xuân, nó lại nuốt lấy chúng, hằng năm, hằng năm, từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Nhưng rồi bác làm vườn, được Yvette gọi tới, đã nổi xung và đập chết con vật bằng một tảng đá.

“Với lũ sâu bọ thì mi được việc đấy.” bác vừa cầm hòn đá bước lại vừa bảo. “Nhưng chớ có hòng mà tống hết tổ ong vào cái ruột của mi.


 

 

   [1]    Một thành phố ở Thụy Sĩ.

   [2]    Nguyên văn: Chinese. Người dịch sửa lại cho phù hợp văn cảnh.

   [3]    Nguyên văn: A hard nut to crack.

   [4]    Một loại sữa bột lúa mạch

 

Sách cùng chủ đề

Vui lòng đăng nhập để có thể gửi đánh giá!